Showing posts with label tài chính. Show all posts
Showing posts with label tài chính. Show all posts

Tuesday, January 13, 2015

Sẽ có 3 hướng xử lý ngân hàng yếu kém

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng đã cho biết như vậy trước câu hỏi về hướng xử lý ngân hàng yếu kém trong năm nay.

Sẽ có 3 hướng xử lý ngân hàng yếu kém
Tại BizTALK “Làm ăn gì năm 2015?” do Diễn đàn đầu tư tổ chức chiều 12/1, trước câu hỏi NHNN định hướng xử lý ngân hàng yếu kém theo hướng nào? Đẩy mạnh bán cho nước ngoài hay làm lớn mạnh lên những ngân hàng nội để có đối trọng với ngân hàng ngoại và đủ tầm vươn ra khu vực? Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc NHNN cho biết, năm 2015, NHNN tiếp tục thực hiện các biện pháp tái cơ cấu, định hướng đề án 254, trong đó có định hướng tái cơ cấu các NHTM để trở thành các ngân hàng vươn ra tầm khu vực.
Việc xử lý các ngân hàng yếu kém chủ yếu dựa vào nguồn lực trong nươc để cơ cấu lại các TCTD. Có 3 hướng xử lý.
Thứ nhất, ưu tiên và tạo điều kiện cho các TCTD tự chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại yếu kém và huy động nguồn lực tài chính của cổ đông và từ bên ngoài; khuyến khích sáp nhập hợp nhất trên cơ sở tự nguyện theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai, trong trường hợp TCTD tái cơ cấu không thành công thì NHNN sẽ áp dụng các biện pháp mạnh theo quy định của pháp luật là đảm bảo an toàn của hệ thống, loại bỏ ngân hàng yếu kém ra khỏi hệ thống.
Thứ ba trong quá trình tái cơ cấu, Chính phủ và NHNN khuyến khích sự tham gia của ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là tham gia vào các ngân hàng yếu kém để có thể giúp các ngân hàng cơ cấu lại hoạt động. Nghị định 01 của Chính phủ quy định trong trường hợp đặc biệt để cơ cấu lại TCTD yếu kém, gặp khó khăn đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một TCTD cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn đối với từng trường hợp cụ thể.
Theo Diễn đàn đầu tư

Dư nợ cho vay ký quỹ chứng khoán lớn hơn con số 17.000 tỷ?

“Theo số liệu báo cáo chính thức từ các tổ chức kinh doanh chứng khoán, dư nợ cho vay ký quỹ giao dịch chứng khoán khoảng 17 nghìn tỷ, nhưng theo tôi, tỷ trọng cho vay từ hệ thống ngân hàng thông qua CTCK và trực tiếp cho khách hàng lớn hơn rất nhiều lần.” – ông Sơn cho biết.


Dư nợ cho vay ký quỹ chứng khoán lớn hơn con số 17.000 tỷ?
Sự ra đời của Thông tư 36/NHNN được đánh giá là một trong những sự kiện tác động mạnh nhất đến thị trường chứng khoán trong năm 2014. Kể từ khi dự thảo Thông tư 36 được công bố vào giữa tháng 11 (và ban hành vào 20/11), Vn- Index đã giảm 13,8% từ 600,93 vào ngày 18/11 xuống mức thấp 518,22 vào 17/12 trước khi phục hồi trở lại trong những tuần gần đây, một phần cũng nhờ những đồn đoán về việc gia hạn áp dụng một số điều của thông tư này.
Ông Nguyễn Sơn – Vụ trưởng Vụ phát triển thị trường (UBCKNN) nhận xét, các tổ chức kinh tế và nhà đầu tư đang quan ngại về việc siết các tỷ lệ cho vay đầu tư cổ phiếu cũng như đầu tư vào trái phiếu chính phủ trong Thông tư 36/NHNN được ban hành và sẽ có hiệu lực vào đầu tháng 2/2015.
“Theo số liệu báo cáo chính thức từ các tổ chức kinh doanh chứng khoán, dư nợ cho vay ký quỹ giao dịch chứng khoán khoảng 17 nghìn tỷ, nhưng theo tôi, tỷ trọng cho vay từ hệ thống ngân hàng thông qua CTCK và trực tiếp cho khách hàng lớn hơn rất nhiều lần.” – ông Sơn cho biết.
Vì vậy, việc siết chặt tỷ lệ đầu tư vào cổ phiếu tối đa không quá 5% vốn điều lệ của các NHTM có dư nợ dưới 3% sẽ tạo một áp lực rất lớn đối với việc giải chấp của các CTCK cũng như yêu cầu giảm dư nợ cho vay đối với các NHTM.
Ông Sơn đánh giá, việc ban hành Thông tư 36 là việc làm cần thiết nhằm kiểm soát chặt chẽ dư nợ đầu tư cho vay chứng khoán cũng như kiểm soát việc sở hữu chéo giữa các ngân hàng, góp phần định hướng cho vay từ các NHTM vào sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
“Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay và thời hạn hiệu lực thực thi cần phải có 1 lộ trình thích hợp. Nếu không sẽ gây những phản ứng sốc và tác động mạnh tới sự sụt giảm mạnh của TTCK.” – Vụ trưởng Vụ phát triển thị trường phát biểu.
Bà Nguyễn Thị Hồng – Phó Thống đốc NHNN cũng cho rằng Thông tư 36 được ban hành nhằm mục tiêu tạo lập nên chuẩn mực mới cao hơn về hoạt động ngân hàng, nhằm thúc đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu các TCTD theo chủ trương của Chính phủ.
Theo bà Hồng, việc thông tư quy định tỷ lệ đầu tư kinh doanh cổ phiếu và đầu tư vào TPCP đối với các TCTD và tổ chức nước ngoài nhằm đảm bảo an toàn của TCTD đồng thời giúp cho sự phát triển của TTCK bởi vì việc TTCK phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ ngân hàng, trong khi vốn ngân hàng huy động chủ yếu là kỳ hạn ngắn rất dễ làm cho TTCK biến động, nhất là khi chính sách tiền tệ thay đổi để đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Bên cạnh đó, để TTCK phát triển ổn định thì cần phát triển thị trường trái phiếu công ty, đa dạng hóa người nắm giữ trái phiếu Chính phủ. Việc này vừa giúp ổn định TTCK vừa giúp giảm áp lực nguồn vốn trung dài hạn, theo đó giảm chênh lệch kỳ hạn đối với hệ thống ngân hàng.
Theo Diễn đàn đầu tư

Friday, August 15, 2014

Lãi suất cho vay tín chấp: Sự cân bằng giữa rủi ro và tín nhiệm

Lãnh đạo NHNN cho biết: NHNN đã làm việc và chỉ đạo các công ty tài chính tiêu dùng rà soát lại các khoản cho vay, tiết kiệm chi phí, đồng thời cam kết có giải pháp quản trị rủi ro để đảm bảo an toàn tín dụng và giảm lãi suất cho vay ở mức hợp lý, giảm chi phí cho khách hàng vay vốn.
Lãi suất cho vay tín chấp vẫn ở mức cao
Đẩy mạnh cho vay tín chấp ví như mũi tên nhắm tới nhiều đích khi các TCTD có thể tăng thu lợi nhuận, khách hàng không có tài sản thế chấp có thêm cơ hội tiếp cận vốn làm ăn. Đồng thời, dòng chảy tín dụng nền kinh tế được khơi thông trong bối cảnh sức cầu của nền kinh tế chưa cải thiện nhiều... Song, chủ trương này vẫn khó thực hiện được khi một số tổ chức tài chính, cho khách hàng vay với lãi suất còn cao.

Rất nhiều công ty tài chính bỏ qua tiêu chí an toàn tín dụng chấp nhận cho vay tín chấp lãi suất cao
Ông V.N.T ngụ tại đường Hoàng Diệu (Đà Nẵng) cho biết, vợ chồng ông vì gia cảnh nghèo khó muốn vay 30 triệu đồng để kinh doanh nhỏ. Qua giới thiệu của một người bạn, ông đến một đơn vị trên địa bàn để vay 30 triệu đồng trong thời hạn 36 tháng. Sau khi nhận hồ sơ, nhân viên giao dịch hẹn 1 tuần sau quay lại với lời hứa cam kết lãi suất tốt và phù hợp với khả năng trả nợ.
Đúng hẹn, ông V.N.T nhận 30 triệu đồng kèm theo thông báo mỗi tháng vợ chồng ông phải trả cả gốc lẫn lãi là 1.609.000 đồng. Con số trên được tính toán cụ thể trên một bảng nợ, mà nhìn vào đó ông mới thấy lãi suất ghi rõ 3,75%/tháng, tức 45%/năm.
“Nếu so với mức lãi vay tín dụng đen bên ngoài thì cũng không khác là mấy. Bản thân những người lao động đã khó khăn mới đi tìm vay nguồn vốn không phải từ tín dụng đen, nhưng nay phải trả lãi suất 45%/năm thì chịu sao thấu”, ông V.N.T chua xót cho biết.
Trường hợp của ông V.N.T không phải là cá biệt khi thời gian qua rất nhiều công ty tài chính chạy theo lợi nhuận đẩy mạnh tiếp thị khách hàng vay với lãi cao. Thậm chí, các công ty này cố tình bỏ qua các tiêu chí an toàn tín dụng, chấp nhận cho vay bằng mọi giá. Như trường hợp tại Công ty TNHH thương mại ACS Việt Nam (ACS), cho vay 10 triệu đồng trong vòng 6 tháng thì mỗi tháng khách hàng phải trả lãi suất 2,2%/tháng, tương đương 26,4%/năm. Hay như Công ty tài chính PPF Việt Nam (PPF) tính sơ bộ khoản vay trên 10 triệu đồng, thời gian vay 12 tháng, người vay trả góp với lãi suất mà PPF áp dụng dao động từ 1,68 - 5,6%/tháng (tương đương 20,16 - 67%/năm).
Còn đối với các DN vay tín chấp, hiện lãi suất dao động 12 – 14%/năm. Nhưng số DN được vay tín chấp vào thời điểm này không nhiều bởi tình hình tài chính khó khăn, dòng tiền chưa tốt, nên các TCTD cũng khá thận trọng. Cho vay tín chấp sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào dòng tiền, nhưng Tổng giám đốc một NHTMCP trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh cho rằng, không dễ để kiểm soát dòng tiền của DN. Nếu kiểm soát dòng tiền có nghĩa là tất cả mọi hoạt động DN, tiền ra tiền vào, kể cả hợp đồng thay đổi, hay khách hàng nhỏ lẻ chỉ chuyển khoản một phần tiền mua hàng còn lại trả tiền mặt… đều phải trình NH. Điều kiện này không phải DN nào cũng có thiện chí chấp thuận.
Chữ Tín đáng giá bao nhiêu?
Đánh giá về mức lãi suất cao ngất ngưởng của các công ty tài chính, TS. Cấn Văn Lực khẳng định: “Không có một tổ chức tài chính, tín dụng nào làm ăn đàng hoàng lãi suất cho vay lại cao khủng khiếp này. Cách làm này chắc chắn là bậy rồi”.

Lịch trả nợ của ông V.N.T với lãi suất cho vay 45%/năm
Nhìn ở góc độ khách quan hơn, Phó tổng giám đốc một NH nước ngoài cho rằng, cho vay tín chấp dựa trên uy tín của từng khách hàng, vì không có tài sản đảm bảo thế chấp. Rất khó có mặt bằng lãi suất chuẩn đối với cho vay tín chấp mà chỉ trên nguyên tắc là khách hàng có độ tín nhiệm cao thì được hưởng lãi suất hợp lý hơn khách hàng có độ tin cậy thấp. Nhưng ông cũng lắc đầu ngán ngẩm với mức cho vay lên tới 45%/năm, hay 67%/năm, bởi nó vượt quá sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của khách hàng.
So sánh với các quốc gia khác có thể không chính xác hoàn toàn, nhưng theo lãnh đạo một NHTM không có nước nào trên thế giới áp dụng lãi suất cho vay tiêu dùng tín chấp cao như vậy. Đơn cử như tại Singapore, mức lãi suất cho vay tín chấp kỳ hạn 12 tháng dao động từ 12-14%/năm. Tại Ấn Độ, cũng là nước đang phát triển, nhưng với kỳ hạn 12 tháng lãi suất chỉ từ 14 - 17%/năm.
Trao đổi với phóng viên TBNH về nguyên nhân một số công ty tài chính cho vay quá cao, một lãnh đạo cấp Vụ của NHNN cho biết, do các khoản vay này thường nhỏ lẻ, có giá trị thấp (nhiều khoản vay chỉ từ 1-5 triệu đồng), thời hạn cho vay ngắn (từ vài ngày đến 1 tháng và hầu hết là dưới 1 năm), thời gian xét duyệt cần nhanh, thủ tục đơn giản. Có trường hợp theo yêu cầu của khách hàng, cán bộ tín dụng đến tận nhà hoặc tại cửa hàng mà khách hàng mua hàng để làm thủ tục cho vay, nên chi phí cho vay cao.
Mặt khác, các khoản cho vay này có mức độ rủi ro cao do nhiều khách hàng có mức độ tín nhiệm thấp, khoản vay không có tài sản bảo đảm, khó xác định chắc chắn tình hình tài chính và thu nhập của khách hàng để đánh giá khả năng trả nợ. Đối với trường hợp cụ thể tại các công ty tài chính, theo vị lãnh đạo trên, do nguồn vốn cho vay chủ yếu là nguồn vốn trung dài hạn nên lãi suất cho vay cao hơn. Vì theo quy định của pháp luật thì các công ty này không được huy động vốn từ dân cư nên nguồn vốn ngắn hạn với lãi suất thấp bị hạn chế.
Mặt khác, mặc dù mức lãi suất niêm yết của các khoản cho vay tiêu dùng tính theo %/năm ở mức cao, nhưng các khoản cho vay này có đặc thù là thời hạn rất ngắn, thậm chí vài ngày hoặc 1 tuần, nên số lãi phải trả của các khoản cho vay không nhiều.
Trên thực tế, dư nợ cho vay tiêu dùng chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 6%/tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống. Hiện các khoản cho vay trên thị trường “tín dụng đen” như cho vay cầm đồ thì số tiền lãi phải trả hàng ngày lên tới 2.000 - 3.000 đồng/triệu đồng. Với mức trả lãi theo ngày của “tín dụng đen” tương đương với lãi suất khoảng hơn 100%/năm thì mức lãi suất cho vay tiêu dùng cá nhân của các TCTD vẫn thấp hơn nhiều, nên việc cho vay tiêu dùng tín chấp hiện nay cũng góp phần hạn chế tình trạng “tín dụng đen” trong xã hội.
Tuy nhiên, lãnh đạo NHNN cũng cho biết thêm: NHNN đã làm việc và chỉ đạo các công ty tài chính tiêu dùng rà soát lại các khoản cho vay, tiết kiệm chi phí, đồng thời cam kết có giải pháp quản trị rủi ro để đảm bảo an toàn tín dụng và giảm lãi suất cho vay ở mức hợp lý, giảm chi phí cho khách hàng vay vốn.
Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc OCB
Không thể cào bằng
Lãi suất cho vay tín chấp tùy khẩu vị rủi ro của các NH cũng như những rủi ro của chính khách hàng. Trong tính toán lãi suất của NH có một số mô hình và phổ biến nhất hiện nay là định giá dựa trên rủi ro. Tức là xác định lãi suất cho vay dựa trên mức độ rủi ro tiềm ẩn của khách hàng. Dựa trên mô hình này, rủi ro trong tín dụng tiêu dùng rất cao.
Ví dụ, đối với khách hàng mà NH xác định tỷ lệ rủi ro mất vốn lên đến 10%. Nếu NH cho vay 24%/năm thì họ khấu hao đi 10%/năm chi phí rủi ro cộng với lãi suất huy động đầu vào kỳ hạn trung, dài hạn 7 - 8%/năm, cộng các chi phí khác thì thực tế mức % lãi suất còn lại của NH được hưởng không phải là quá nhiều.
Đó cũng là lý do lãi suất cho vay tín chấp bao giờ cũng phải cao. Việc NH hút được khách vay với mức lãi suất cao hay không tôi nghĩ tùy nhu cầu cũng như mức độ chịu đựng của khách hàng. Vì các món vay thường giá trị nhỏ, có thể tỷ lệ phần trăm lãi suất cao, nhưng giá trị tuyệt đối tiền lãi phải trả thì không cao lắm.
Mặt khác, về đối tượng cho vay, mục đích cho vay, quản lý rủi ro… của mỗi NH hoàn toàn khác và nếu đem hoạt động vay tín chấp cho mục đích tiêu dùng so với hoạt động NHTM tài trợ cho sản xuất, đầu tư thì không thể so sánh được. Chính vì thế, không nên so sánh cho vay tín chấp lĩnh vực này với lĩnh vực kia cao hay thấp. Vì ở lĩnh vực nào tỷ lệ rủi ro thấp hơn thì đương nhiên lãi suất thấp hơn.
Do các NHTM hiện gặp khó khăn trong cho vay sản xuất kinh doanh nên đẩy mạnh vốn tín dụng cho vay tiêu dùng, nhất là tiêu dùng tín chấp, là một hướng đi. Tuy nhiên, thực tế, quy mô cho vay tiêu dùng tín chấp chiếm rất nhỏ, theo tôi chỉ chiếm khoảng dưới 1% trong tổng thị phần tín dụng hiện nay.
Mặc dù vậy, quan điểm của tôi, đây chỉ là giải pháp tạm thời chứ NH không nên tập trung nhiều hoạt động này mà chú trọng vào hoạt động tài trợ thương mại đối với khách hàng khu vực sản xuất kinh doanh. Vì để làm hiệu quả mảng tín dụng tiêu dùng phải áp dụng một mô hình hoạt động hoàn toàn khác với những con người, quản trị rủi ro khác, thậm chí hình thức pháp lý khác. Nếu muốn làm, tôi nghĩ NH nên thành lập công ty trực thuộc để chuyên biệt hóa. Nếu không tách ra làm độc lập mà để tập trung như vậy, các NHTM chưa chắc làm tốt bằng các công ty tài chính.
Ông Vương Văn Hải, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và sản xuất hàng may mặc Hải Tuấn (Bắc Ninh):
Lãi suất cao làm khó DN
Là công ty sản xuất và gia công hàng may mặc xuất khẩu, để đầu tư nhà xưởng và máy móc phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự có, công ty phải vay thêm vốn NH bằng tài sản thế chấp chính là nhà xưởng. Có thời điểm công ty vay 400 triệu đồng từ NH. Với các khoản vay này, công ty luôn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không để tình trạng nợ xấu xảy ra. Đến thời điểm hiện tại công ty đã trả hết nợ NH.
Công ty chúng tôi có hơn 50 lao động thường xuyên đang thực hiện các hợp đồng gia công sản phẩm cho đối tác nước ngoài. Nhiều thời điểm DN cần số vốn lớn để đầu tư thêm máy móc nhưng gặp phải hạn chế khá nhiều về hạn mức vay căn cứ theo giá trị tài sản thế chấp.
Song hiện nay, NH muốn cho DN vay theo hình thức tín chấp cũng rất khó bởi liên quan đến nhiều thủ tục. Bên cạnh đó, trong khi sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, lợi nhuận thấp thì lãi suất vay tín chấp thường cao hơn cho vay có tài sản thế chấp nên sẽ càng làm khó cho DN. Bởi vậy, công ty cũng chưa có ý định vay tín chấp NH.
Chị Nguyễn Thị Huế, Kế toán Công ty TNHH Direkt Á Châu (Ba Đình - Hà Nội):
Chỉ nên gấp 1,5 lần
Tôi đang có nhu cầu vay 40 triệu đồng phục vụ cho công việc. Do không có tài sản đảm bảo nên tôi vay qua tín chấp. Qua tìm hiểu các đơn vị đang cho vay tín chấp hiện nay, cả NH và công ty tài chính như Prudential, HSBC, VPBank… cho thấy các thủ tục cho vay tín chấp khá đơn giản và phù hợp với những người không có tài sản thế chấp như tôi. Chỉ cần hộ khẩu, chứng minh thư và bảng xác nhận lương hay có tài khoản tín dụng là được vay.
Theo các nhân viên tư vấn của NH, số tiền cho vay tín chấp cũng khá cao, từ 30-300 triệu đồng tùy thuộc vào điều kiện và mức độ vay. Thời gian cho vay cũng linh hoạt từ 12 - 60 tháng. Tuy nhiên, mức lãi suất cho vay tín chấp vẫn còn khá cao. So với các khoản vay có tài sản đảm bảo chỉ trên dưới 10%/năm thì lãi suất cho vay tín chấp theo tìm hiểu của tôi ở mức từ 18-45%/năm.
Đây thực sự là mức lãi suất khá cao và sẽ tạo áp lực không nhỏ cho người vay nếu như phải vay với khoản tiền lớn. Mức lãi suất chào mời thấp nhất tôi nhận được từ một đơn vị cho vay tín chấp là khoảng 1,1% - 1,7%/tháng, được tính theo phương pháp “lãi suất phẳng” theo dư nợ giảm dần.
Tôi cho rằng, hiện nay các NH cho vay đối với tài sản thế chấp ở mức 7 - 10%/năm thì mức cho vay tín chấp chỉ nên gấp rưỡi là phù hợp. Bởi tuy là vay tín chấp nhưng người vay cũng phải có sự đảm bảo nhất định như chứng minh được mức thu nhập, khả năng trả nợ...
Hà Thành

Tín dụng khu vực tư nhân: Phải bám sát chiến lược phát triển kinh tế vùng

Những năm qua, DN khu vực tư nhân đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, đầu tư tín dụng cho khu vực này vẫn chưa tương xứng tiềm năng của nó, mà vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là một điển hình. Theo chuyên gia kinh tế TS. Vũ Đình Ánh, tập trung phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân với nòng cốt là các DN hoàn toàn có thể là khâu đột phá và miền Trung không là ngoại lệ.
TS. Vũ Đình Ánh
Vậy vì sao DN tư nhân miền Trung vẫn chưa mạnh dạn vay vốn để phát triển, thưa ông?
Tương tự như nhiều tỉnh, thành trong cả nước, các DNNVV thuộc khu vực tư nhân miền Trung chiếm tuyệt đại đa số, với quy mô vốn và lao động nhỏ, trình độ sản xuất kinh doanh hạn chế, công nghệ lạc hậu, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính, trong đó có nguồn tín dụng. Chính vì vậy, một bộ phận đáng kể DN tư nhân èo uột, khó phát triển, thậm chí lâm vào tình trạng phá sản, giải thể, dừng hoạt động.
Ở góc độ khác, hiện nay khu vực tư nhân đang chứa đựng mâu thuẫn nội tại, vừa đòi bình đẳng với khu vực Nhà nước và vốn FDI lại vừa yêu cầu Nhà nước có những ưu đãi riêng. Trong khi bản thân họ lại chưa chủ động để được coi là đối tác bình đẳng trong giao thương do tư tưởng chờ đợi sự “ban phát” và “dựa dẫm” vào Nhà nước. Mà vấn đề cốt lõi trong hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân đến cả từ phía cung lẫn phía cầu.
Theo ông, dòng tín dụng cần được định hướng ra sao để đảm bảo đến đúng địa chỉ?
Theo quan điểm của tôi, quy mô và chất lượng tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân không thể cải thiện nếu tín dụng không gắn bó chặt chẽ với lựa chọn và xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, hợp lý và khả thi. Nếu chiến lược của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là phát triển du lịch, kinh tế biển thì việc xác định vai trò và sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân sẽ khác. Theo đó, định hướng tín dụng cho khu vực này cũng sẽ khác so với lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp chế biến hay lọc hoá dầu…
Tín dụng cho DN khu vực tư nhân cũng phải tuân thủ các quy luật thị trường tài chính tín dụng. Quy mô tín dụng cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói chung, cho khu vực kinh tế tư nhân nói riêng chỉ tăng trưởng một cách bền vững khi đi đôi với đảm bảo chất lượng tín dụng, hiệu quả sử dụng vốn, hạn chế phát sinh nợ xấu dưới sự chi phối của quy luật cung - cầu và cạnh tranh trên thị trường…
Nói cách khác, mỗi hợp đồng tín dụng của DN khu vực tư nhân tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phải được đặt trong sự lựa chọn cạnh tranh với hợp đồng tín dụng của các DN khác trong vùng, trong nước và thậm chí tới đây là trong khu vực quốc tế.
Một vấn đề cần đề cập đến nữa là nhu cầu vốn tín dụng của DN tư nhân và khả năng đáp ứng nhu cầu này cần đặt trong mối quan hệ tổng thể, phối hợp, bổ sung với các nguồn vốn, nguồn lực khác. Vốn tín dụng có vai trò quan trọng nhưng không là duy nhất mà phải cân đối nguồn vốn này trong quá trình huy động và sử dụng vốn của DN, trong đó cần chú ý tới đặc điểm của vốn tín dụng là phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn đi đôi với rủi ro về biến động lãi suất, điều kiện tiếp cận tín dụng. Việc sử dụng đòn bẩy nợ, kể cả nợ vay tín dụng quá cao luôn tiềm ẩn khả năng vỡ nợ, thậm chí phá sản.
Điểm cuối cùng, tôi nghĩ tăng trưởng tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân cần hài hòa hóa quan hệ kinh tế tài chính giữa khu vực kinh tế Nhà nước, tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm khắc phục tình trạng phân biệt đối xử, bất bình đẳng, chèn ép trong hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong tiếp cận các nguồn lực tài chính, tín dụng…

Công nghiệp cơ khí được xác định là ngành trọng điểm các tỉnh miền Trung
Làm thế nào để DN tư nhân tại miền Trung có thêm cơ hội tiếp cận nguồn tín dụng, thưa ông?
Rào cản lớn nhất của đại bộ phận DN tư nhân là thiếu tài sản đảm bảo, tài sản thế chấp khi muốn tiếp cận tín dụng. Trong khi chờ đợi các quy định mới về cho vay không cần tài sản đảm bảo thì giải pháp phát triển Quỹ bảo lãnh tín dụng là cứu cánh cho không ít DN vượt qua trở ngại tiếp cận được vốn vay.
Theo tôi, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nên đi đầu trong tạo điều kiện phát triển Quỹ bảo lãnh tín dụng cả về quy mô, phạm vi hoạt động, cũng như giảm gánh nặng về phí bảo lãnh cho các DN trên địa bàn. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DN ngoài quốc doanh hiện nay đang chứng tỏ là một trong những giải pháp hữu hiệu. Tuy nhiên, không nên tự giới hạn đối tượng là các DNNVV mà nên mở rộng thành Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN ngoài quốc doanh.
Để thúc đẩy các DN khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn tín dụng phát triển sản xuất kinh doanh, hạn chế “tín dụng đen” thì việc khắc phục tâm lý e ngại, tình trạng thiếu hiểu biết của một bộ phận DN, nhất là DN nhỏ và siêu nhỏ, mới thành lập, trong quá trình lập hồ sơ vay tín dụng là cần thiết và cấp bách. Theo đó, có thể xem xét lập Trung tâm dịch vụ tín dụng thực hiện chức năng cầu nối giữa DN với TCTD thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin về tín dụng, hướng dẫn và hỗ trợ DN lập hồ sơ vay vốn tín dụng, giúp đỡ DN tiếp cận với TCTD...
Xin cảm ơn ông!
Thanh Huyền thực hiện
Theo http://thoibaonganhang.vn/